Đức tin không tách chúng ta khỏi cuộc đời, nhưng giúp ta sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian. Người Kitô hữu vẫn chu toàn bổn phận xã hội, chia sẻ vui buồn với con người thời đại. Lời Chúa mời gọi ta thực thi trách nhiệm trần thế, đồng thời luôn lấy Thiên Chúa làm nền tảng cho những ước muốn, suy nghĩ, lời nói, thái độ và hành động của mình, để giữ vững căn tính con cái Chúa giữa những cạm bẫy của quyền lực và lợi danh.
- Cái bẫy của toan tính phàm trần và sự khôn ngoan thần linh
Âm mưu giăng ra trước mặt Chúa Giêsu là sự bắt tay nghịch lý giữa nhóm Pharisêu nhiệt thành lề luật và phe Hêrôđê thân quyền bính ngoại bang (Mt 22, 15-16). Hai phe vốn căm ghét nhau: Pharisêu coi phe Hêrôđê là phường phản quốc, còn phe Hêrôđê coi Pharisêu là bọn cuồng tín cản trở ổn định chính trị. Vậy mà trước Chúa Giêsu, Đấng không thỏa hiệp với bất cứ giả hình nào, hai kẻ thù truyền kiếp ấy lập tức liên minh, vì Ngài là mối đe dọa chung cho những cấu trúc quyền lực giả tạo của họ.
Họ tiếp cận Chúa Giêsu bằng lời tâng bốc ngọt ngào, che dấu ý đồ mưu hại Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” (Mt 22,16-17). Nếu nói “Có”, Ngài sẽ bị dân chúng lên án là thỏa hiệp với đế quốc xâm lược. Nếu nói “Không”, phe Hêrôđê sẽ tố cáo Ngài với chính quyền Rôma về tội xúi giục nổi loạn.
Nhưng Chúa Giêsu không để mình bị giam trong chiếc bẫy chính trị ấy. Ngài bóc trần ác ý của họ: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!” (Mt 22,18). Họ vừa muốn hưởng lợi ích từ đế quốc Rôma, vừa muốn tỏ ra trong sạch theo luật Môsê để lên án người khác. Khi được bảo đưa đồng tiền nộp thuế, họ chìa ra đồng denarius khắc hình hoàng đế Tibêriô cùng hàng chữ “Con của Augustus thần thánh”; mang đồng tiền ấy trong túi, chính họ đã mặc nhiên thừa nhận quyền của Xêda.
- Tiếng gọi Cyrô: quyền năng tể trị của Đấng Duy Nhất
Trong Bài đọc I, ngôn sứ Isaia nhắc ta về chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa trên lịch sử. Thiên Chúa gọi đích danh vua ngoại giáo Kyrô của Ba Tư là “kẻ được xức dầu” và cầm lấy tay hữu ông (Is 45, 1. 4). Danh xưng thánh thiêng này vốn chỉ dành cho các tư tế tối cao hoặc các vua dòng Đavít, vậy mà nay được trao cho một vị vua ngoại đạo để thực hiện thánh ý Đấng Tối Cao.
Khi chinh phục Babylon, hẳn Kyrô nghĩ vinh quang ấy là do mưu lược và sức mạnh quân đội của mình. Ông không biết Thiên Chúa của Israel. Nhưng Lời Chúa hé mở bức màn đằng sau vũ đài chính trị: dù Kyrô không nhận biết Ngài, Thiên Chúa vẫn dùng ông làm khí cụ giải thoát Israel khỏi lưu đày và phục hưng Đền Thờ Giêrusalem.
Chân lý vang lên đanh thép: “Ta là Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (Is 45, 5). Lời đó đập tan mọi ảo tưởng kiêu ngạo về quyền lực thế trần. Quyền lực của Xêda, của Kyrô hay bất cứ định chế xã hội, chính trị nào cũng chỉ tạm thời và nằm dưới sự quan phòng của Đấng Tạo Hóa. Quyền lực trần gian được trao để gìn giữ trật tự và phục vụ con người, chứ không phải là cội nguồn của sự sống và chân lý.
Bổn phận đối với trật tự xã hội là cần thiết cho công ích, nhưng không Xêda nào được tự phong làm thần linh để đòi sự tôn thờ vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa. Khi một chế độ đòi người dân phục tùng những mệnh lệnh trái công bình và đạo lý tự nhiên, chế độ ấy đã biến mình thành ngẫu tượng. Lời tuyên xưng của Isaia là bản tuyên ngôn giải phóng con người khỏi mọi nô lệ ý thức hệ: chỉ có một Thiên Chúa tối cao, và trước mặt Ngài, mọi quyền bính trần gian đều phải chịu trách nhiệm luân lý.
- Đồng tiền mang hình ảnh hoàng đế, con người mang hình ảnh Thiên Chúa
Trọng tâm câu trả lời của Chúa Giêsu là sự phân biệt giữa hình ảnh khắc trên đồng bạc và hình ảnh ghi tạc nơi tâm hồn con người. Đồng denarius mang chân dung Tibêriô là công cụ trao đổi trong đế quốc; nộp thuế là trả lại cho hoàng đế một phương tiện thuộc trật tự hành chính của ông ta. Thế nhưng, con người, một thụ tạo có lý trí, ý chí và tự do, thì mang dấu ấn của ai?
Thánh Giustinô, tử đạo năm 166, trong thư gửi Hoàng đế Titus Augustus Caesar, quả quyết: “Ở khắp mọi nơi, chúng tôi, hơn tất cả mọi người, sẵn lòng nộp cho những người được Ngài chỉ định các loại thuế thông thường và bất thường, như Chúa Kitô đã dạy chúng tôi hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Vì vậy, chúng tôi chỉ thờ phượng Thiên Chúa, nhưng trong những việc khác, chúng tôi vui lòng phục vụ Ngài.” *
Sách Sáng Thế khẳng định con người được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1, 27), nền tảng tối hậu của nhân phẩm. Không quyền lực nào được coi con người như món hàng hay công cụ. Tiền bạc có thể thuộc về Xêda, nhưng linh hồn và phẩm giá con người mãi mãi thuộc về Đấng đã dựng nên họ.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng: “Nguyên tắc Tin Mừng sáng suốt này đã hướng dẫn Giáo hội từ thuở ban đầu, thúc đẩy Giáo hội nuôi dưỡng lòng tôn trọng sâu sắc đối với các thể chế dân sự. Trong các thể chế đó và trong những người nam nữ chịu trách nhiệm về các thể chế đó, chúng ta có thể thấy dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng dẫn dắt các sự kiện lịch sử. Omnis potestas a Deo – mọi quyền lực đều đến từ Thiên Chúa. Trên cơ sở đó là bổn phận tôn trọng luật pháp và những người thi hành quyền lực. Tuy nhiên, mọi sự luôn phải tuân theo quyền tối cao của Chúa, đến mức bất cứ điều gì trái với luật của Ngài đều không thể ràng buộc” (Diễn từ trước các nhân viên chính phủ Ý và các nhóm khác, thứ Bảy, 25 tháng 11 năm 2000).
Chúng ta vừa là công dân trần thế vừa là công dân Nước Trời: ta tôn trọng luật pháp chính đáng, nhưng khi đức tin và lương tâm bị thách đố, ta phải kiên vững như các Tông đồ: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5, 29). Người Kitô hữu trung thành với quê hương bằng cách chăm chỉ làm việc, tôn trọng luật lệ và góp sức xây dựng đất nước. Nhưng khi luật pháp xúc phạm sự sống hay chà đạp tự do tôn giáo, tiếng nói lương tâm phải được đặt lên trên hết. Đó không phải là nổi loạn, nhưng là lời chứng can trường bảo vệ dấu ấn của Thiên Chúa nơi con người.
- Hiện tại hóa niềm tin qua đời sống bác ái và cậy trông
Thánh Phaolô chỉ ra con đường cụ thể để “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Người” là sống các nhân đức Tin, Cậy, Mến. Giữa đô thị ngoại giáo đầy các loại thần và đền miếu, giáo đoàn Thêxalônica được ngài ca ngợi không vì thịnh vượng hay địa vị, nhưng vì hoa trái của các nhân đức ấy: “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô” (1 Tx 1,3).
Trong thông điệp Deus Caritas Est, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhắc rằng: “Điều cơ bản của Kitô giáo chính là phân biệt giữa điều thuộc về Xêda với điều thuộc về Thiên Chúa (Mt 22,21), phân biệt giữa Giáo hội và nhà nước. Nhà Nước không áp đặt tôn giáo, nhưng bảo đảm tự do tôn giáo và thúc đẩy hài hòa giữa các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau. Về phần mình, Hội thánh, như một biểu hiện niềm tin Kitô giáo trong xã hội, phải giữ cho mình được độc lập, như một cộng đoàn dựa trên nền tảng đức tin của mình, và được nhà nước tôn trọng. Hai lãnh vực đạo đời tuy tách biệt, nhưng luôn có mối tương quan mật thiết với nhau” (Thông điệp Deus Caritas Est, số 28).
Đức tin được thể hiện qua đời sống hằng ngày: dám làm chứng cho sự thật, sống liêm chính giữa công sở và phố chợ, khước từ đồng tiền bất chính dù phải chịu thiệt. Đức cậy giúp ta giữ vững niềm hy vọng nơi Chúa Kitô Phục Sinh, như giáo đoàn Thêxalônica đã vượt qua bách hại. Đức mến đòi hỏi dấn thân, quên mình và nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi người nghèo khổ, bệnh tật, bị gạt ra bên lề.
Trước câu hỏi của Chúa Giêsu: “Hình và danh hiệu này là của ai?”, mỗi người hãy tự hỏi: tâm hồn tôi mang hình ảnh của ai? Tôi có thể chu toàn bổn phận trần thế, trả hóa đơn đúng hạn, tuân thủ pháp luật, nhưng lại keo kiệt thời gian dành cho Thiên Chúa. Tôi dành hàng giờ cho những cuộc vui, nhưng lại thấy mười lăm phút cầu nguyện bên Thánh Thể là quá dài.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô cảnh tỉnh rằng: “Người Kitô hữu được kêu gọi dấn thân một cách cụ thể vào những thực tại trần gian, nhưng soi sáng chúng bằng ánh sáng đến từ Thiên Chúa. Sự phó thác cho Thiên Chúa và niềm hy vọng nơi Ngài không hàm ý trốn tránh thực tại, mà là siêng năng dâng hiến cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài. Đó là lý do tại sao một tín hữu hướng đến thực tại tương lai, của Thiên Chúa, để sống trọn vẹn cuộc sống trần gian và đối mặt với những thách thức bằng lòng can đảm” (Kinh Truyền tin, 22 tháng 10 năm 2017).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con chu toàn bổn phận giữa đời mà vẫn giữ tâm hồn trong sạch để dâng trọn cuộc đời cho Chúa. Xin cho chúng con luôn nhớ mình là hình ảnh Chúa qua Bí tích Rửa Tội, để nhờ đời sống ngay thẳng và yêu thương, mọi người nhận ra Chúa là nguồn hy vọng và Đấng cứu độ duy nhất. Amen.
Phêrô Phạm Văn Trung
* https://www.newadvent.org/fathers/0126.htm, chương 17.